English
Vietnammese
PHÒNG KHÁM TAI MŨI HỌNG THỦY TRẦN
Tiến sĩ Trần Lệ Thủy
Số 6 Phố Đỗ Quang, Hà Nội
Email: thuyent12@gmail.com
Giờ làm việc
Sáng: 9h00 - 12h00; Chiều: 13h30 - 18h00
Nghỉ: ngày lễ, chủ nhật, chiều thứ 5 & chiều thứ 7

Bệnh về tai



BỆNH VỀ TAI

Trần Lệ Thủy MD., Ph.D
Trần Minh Trang MD., MSc
Websites: Taimuihongthuytran.com & Earnosethroat.vn


 

Giải phẫu sinh lý vòi nhĩ & tai giữa
 
Tai giữa gồm ba thành phần nối thông với nhau là tế bào chũm, hòm nhĩ và vòi nhĩ - Eustachian tube (hình H1, H2). Tế bào chũm - ở ngay sau vành tai, có kích thước nhỏ khi trẻ mới đẻ, phát triển lớn dần theo hướng ra sau, lên trên và xuống dưới của xương chũm. Mặt bên ở trung tâm nhóm tế bào chũm có một khoảng trống lớn gọi là sào bào, thành trước sào bào có đường nối thông với hòm nhĩ gọi là sào đạo. Sào đạo là một ống mở vào hòm nhĩ. Mặt trước hòm nhĩ là cửa loa vòi nhĩ, vòi nhĩ này mở vào vòm mũi họng. Hòm nhĩ có kích thước không đổi từ lúc trẻ sinh ra đến khi trưởng thành. Hòm nhĩ là một khoảng trống có sáu mặt, bên trong có chuỗi xương nghe, gắn liền với mặt bên là màng nhĩ và mặt trong hòm nhĩ. Mặt bên hòm nhĩ  là màng nhĩ, là đáy của ống tai ngoài. Mặt trong tiếp giáp với tai trong, mặt sau là nơi thông với sào đạo, mặt trước mở thông với vòi nhĩ. Mặt trên trần hòm nhĩ là vỏ xương tiếp giáp đại não, mặt dưới hòm nhĩ là vịnh cảnh.
 

 
Ba cấu trúc tế bào chũm, hòm nhĩ và vòi nhĩ tạo nên tai giữa, giữ chức năng truyền âm tiếp nhận âm từ môi trường bên ngoài và bảo vệ tai trong. Lót trong lòng ba khối rỗng nay là màng niêm mạc đường thở có lông chuyển tiết dịch nhày sinh lý, dòng dịch này được đào thải tự nhiên ra hốc mũi qua vòi nhĩ.
 


 

Ở người trưởng thành vòi nhĩ phát triển đầy đủ có chiều dài khoảng 3,7cm, hướng ra trước và xuống dưới tạo với phương ngang một góc 45 độ (H3, bên phải).
Ở trẻ mới đẻ vòi nhĩ ngắn, hướng ra trước chỉ chếch với phương ngang chỉ 10 độ (H3, bên trái) nên dịch viêm nhiễm ở vùng mũi họng bao gồm cả dịch dạ dày thực quản rất dễ trào qua vòi nhĩ để vào tai giữa gây nên sự đình trệ lưu thông khí và dịch trên cả ba cấu trúc tế bào chũm, hòm nhĩ, vòi nhĩ và dẫn đến viêm tai. Ở trẻ tổ chức Adenoid - VA rất phát triển, có thể gây che lấp một phần loa vòi nhĩ, gây thêm yếu tố thuận lợi gây tắc vòi nhĩ và thông khí mũi xoang, góp phần gây viêm tai. 
Đặc điểm giải phẫu sinh lý vòi nhĩ ở trẻ em là nguyên nhân làm cho tỷ lệ viêm tai ở trẻ em cao hơn nhiều so với người trưởng thành. Màng nhĩ là mặt ngoài bên của hòm nhĩ có thể quan sát bởi đèn nội soi qua ống tai ngoài. Chích rạch màng nhĩ dẫn lưu dịch viêm ra khỏi tai giữa và điều trị tích cực viêm mũi họng, nạo VA là giải pháp điều trị viêm tai dựa trên đặc điểm giải phẫu sinh lý bệnh trên đây.
______________________________________________________________

Điếc đột ngột
Sudden Deafness
 
Là bệnh điếc thể tiếp nhận, còn gọi là điếc thể thần kinh hoặc điếc tai trong, xẩy ra đột ngột trong khoảng thời gian ngắn vài giờ hoặc vài ngày do các nguyên nhân cấp tính tác động vào bộ phận cochlea và saccule  của tai trong. 
 
NGUYÊN NHÂN 
 
Có những tác nhân sau có thể gây tổn thương cấp tính các tế bào nghe là :
- Viêm nhiễm đặc biệt là do siêu vi trùng như quai bị, sởi, Influenza, adenovirus. Nhiễm khuẩn sau viêm mê nhĩ, viêm màng não.
- Do các bệnh gây co thắt mạch máu tai trong đột ngột, do phù nề, chảy máu, tắc mạch. Bệnh có thể tự hồi phục tự nhiên, có thể hồi phục một phần, cũng có thể điếc vĩnh viễn.
- Nhiễm độc thuốc, phản ứng với thuốc.
- Tiếng ồn cường độ mạnh đột ngột xảy ra.
- Những biến đổi áp lực gây tổn thương ốc tai màng.
- Những lỗ dò bẩm sinh trên của sổ tròn, cửa sổ bầu dục nhân có sức ép đột ngột đã trở thành tác nhân gây sức ép chấn thương nội dịch tai trong.
-  Do sự xâm lấn của khối u dây thần kinh thính giác.
 
TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
 
Điếc đột ngột có thể ngay lập tức phát triển ở mức tối đa của bệnh, thường chỉ một tai, hiếm trường hợp điếc hai bên. Điếc có thể kèm theo triệu chứng ù tai, chóng mặt do tiền đình và ốc tai cùng một lúc chịu tác nhân gây bệnh.
 
ĐO THÍNH LỰC
 
Với âm đơn cả đường xương và đường khí đều giảm, cho thấy điếc tiếp nhận ở các mức độ khác nhau.
Bệnh có thể tự hồi phục hoàn toàn, có thể hồi phục một phần, cũng có thể tồn tại mãi mãi, nếu tác nhân gây bệnh đã làm hư hoại tế bào lông của cơ quan corti. Điếc đột ngột ở giai đoạn cuối xẩy ra sau viêm mê nhĩ thường không có khả năng hồi phục. Sự đổ máu, sự thiếu máu cục bộ tại cơ quan corti cũng sớm gây đình trệ hoạt động thính giác đến mức không hồi phục lại được.
 
ĐIỀU TRỊ
 
Là cấp cứu.
Thuốc điều trị có tác dụng rất hiệu quả trong những giờ đầu, những ngày đầu, do vậy phải coi điếc đột ngột như một bệnh cấp cứu. Đối với các nguyên nhân gây điếc do viêm nhiễm phù nề dị ứng điều trị kháng sinh và corticoid, histamine rất hiệu quả. Truyền huyết thanh ngọt ưu trương để thải độc, ngừng dùng các thuốc mà bệnh nhân đã điêù trị trước đó nếu có nghi ngờ có ngộ độc thuốc. Thuốc chống co thắt mạch máu, tăng tuần hoàn, chống đông máu được sử dụng để nhanh chóng lập lại tuần hoàn ở tai trong, cung cấp oxy trở lại kịp thời nuôi dưỡng lại tế bào thính giác. Divascol, papaverine góp phần cải thiện tuần hoàn máu.

______________________________________________________________

Liệt mặt ngoại biên
Facial nerve paralysis
 
Đường đi và liên quan
 
 
Liệt mặt còn được gọi là liệt dây VII. Liệt mặt ngoại biên thuộc phạm vi bệnh học của ngành chuyên khoa tai mũi họng. Là bệnh do các tác nhân gây bệnh tác động vào giây thần kinh mặt phần ngoại biên tính từ vị trí giây thần kinh VII thoát ra khỏi não ở rãnh hành cầu, chui vào ống tai trong xuyên qua phần xương đá, đến tai giữa, xương chũm, ra khỏi hộp sọ ở lỗ trâm chũm, đi vào tuyến mang tai, và chia nhánh ở đây. Giây thần kinh mặt chi phối hoạt động các cơ căng da mặt, cơ bàn đạp,các cơ sau tai,cơ  nhị thân, cơ căng da cổ. Nhánh trung gian còn gọi là Grisberg, chứa các sợi cảm giác hai phần ba trước lưỡi, sợi phó giao cảm điều tiết tuyến dưới hàm, dưới lưỡi, và tuyến nước mắt. Dây VII còn chứa các sợi hướng tâm nối với nhánh tai của dây X cung cấp cảm giác cho ống tai ngoài, qua nhánh thần kinh khẩu cái lớn chi phối cảm giác niêm mạc mũi, khẩu cái, họng. 
Ra khỏi rãnh hành cầu dây VII và dây trung gian Grisberg đi một đoạn ở vỏ não dài khoảng 12-14mm cùng với dây VIII vào ống tai trong. Đoạn trong ống tai trong dài khoảng 8-10mm, chạy đến hạch gối. Đến đây nó phân ra nhánh đá nông lớn, nhánh này đi kèm với các sợi phó giao cảm chi phối tuyến lệ và nhánh đá nông bé cung cấp các sợi phó giao cảm cho tuyến mang tai. Từ hạch gối, nằm sau trên thành trong hòm nhĩ, dây VII đi trên bờ cửa sổ bầu dục, dài khoảng 10mm. Đoạn này rất quan trọng ta có thể gọi nó là đoạn hòm nhĩ. Đoạn này có tỷ lệ cao không có vỏ xương bao bọc và rất dễ bị tổn thương trong viêm nhiễm của tai giữa, cũng như dễ chấn thương trong phẫu thuật xương bàn đạp. Tiếp đó dây VII ngoặt xuống dưới và ra sau để đi đến mỏm xương chũm . Đoạn dây VII chạy trong xương chũm dài khoảng 14mm và chui ra khỏi xương chũm ở lỗ trâm chũm để đi vào tuyến mang tai. Đến đây dây thần kinh trung gian cho nhánh là dây thừng nhĩ - Chorda tympani, đi ngược lên hòm nhĩ lách vào giữa  xương đe và xương búa và thoát ra vùng đá nhĩ. Trong tuyến mang tai dây VII nằm lọt giữa hai thuỳ tuyến mang tai giống như sợi dây đánh dấu giữa hai phía của một cuốn sách, nó chia ra thành các nhánh sau: Thái dương, gò má, miệng, hàm dưới, cổ.
 
Nguyên nhân
 
Do siêu vi trùng thường gặp nhất là bệnh Zonna. Loại virus này xâm nhập vào hạch gối, ở vị trí nối đoạn hòm nhĩ với đoạn ống tai trong.
Do vi trùng trong viêm tai giữa cấp hoặc mạn.
Do chấn thương xương đá, xương nhĩ, hoặc xương chũm.
Do sang chấn phẫu thuật xương chũm hoặc tai giữa.
Liệt mặt Bell: còn được gọi là liệt mặt vô căn, hoặc do lạnh,hoặc do co thắt, thân dây VII bị chèn ép trong vỏ xương.
Do khối u chèn ép: u hạt, u tuyến mang tai, u dây VII Schwanomma, hội chứng Melkersson - Rosenthals.
 
Triệu chứng liệt mặt
 
Triệu chứng lâm sàng của liệt dây VII ngoại biên như sau :Da mặt,miệng,mắt trán mất độ căng. Các nếp nhăn trán trở nên mất cân xứng, nhân chung lệch, mắt nhắm không kín, chảy nước mắt, tê 1/3 trước lưỡi,miệng có thể chẩy xệ một bên, khi ăn uống nước có thể trào ra khoé miệng bên bị liệt. Mức độ liệt khác nhau tuỳ mức độ tổn thương hoặc mức độ thân dây VII bị chèn ép.
 
Điều trị
 
Điều trị nguyên nhân.
- Chống viêm & phù nề cấp  bằng kháng sinh và corticoid
- Với chấn thương: phẫu thuật bộc lộ dây VII để giải phóng dây VII khỏi vỏ xương để thoát khỏi chèn ép trực tiếp, nối dây VII khi có chấn thương bị đứt.
- Trong viêm tai mạn tính, đặc biệt là loại có chất phá huỷ xương Cholesteatoma dây VII rất dẽ bị tổn thương đoạn khuỷu là điểm nối giữa  đoạn hòm nhĩ với đoạn đi xuống mỏm xương chũm. Chỉ định mổ tai và xương chũm cấp cứu để cứu dây VII ra khỏi sự huỷ diệt của Cholesteatoma.
- Với liệt mặt Bell: điều trị chống phù viêm và theo rõi sự tiến triển. Nếu triệu chứng tăng dần, hoặc không phục hồi trong khoảng 2-3 tuần nên đặt vấn đề mổ bộc lộ dây VII, tìm căn nguyên và giảm sức ép của vỏ xương bao quanh thân dây VII.
- Phẫu thuật loại bỏ các khối u giải phóng dây VII.
______________________________________________________________

Cholesteatoma

Viêm tai giữa hoặc viêm tai xương chũm có Cholesteatoma là thể bệnh nguy hiểm cần được kiểm soát và điều trị triệt để.
Cholesteatoma nguyên phát có mầu trắng như xà cừ.Cholesteatoma thứ phát trong tai viêm có mầu trắng hoặc nâu, như bã đậu và mùi thối như mùi cóc chết.
Bản chất là tổ chức biểu mô da phát triển lạc chỗ.Loại cholesteatoma nguyên phát nằm sắn trong tai giữa hoặc trong xương đá, xương chũm. Phát hiện được do ngẫu nhiên, có thể tồn tại lâu trong các vị trí trên, không gây ra bệnh lý. Loại cholesteatoma gây bệnh lý quan trọng là thể thứ phát sau viêm tai giữa. Ở thể này biểu mô da ống tai vượt qua lỗ thủng của màng nhĩ di cư vào tai giữa, vào vòi nhĩ, vào xương chũm qua sào đạo, vào xươnng đá. Cholesteatoma phát triển rất nhanh và có khả năng xâm lấn  xương, ăn mòn xương nhĩ xương chũm, phá huỷ vỏ dây thần kinh VII, hệ thống xương con trong tai giữa, xâm lấn vùng tiền đình, ốc tai, nặng hơn có thể phá huỷ vỏ xương sọ để vào vỏ não gây nên những viêm màng não, áp xe não sau viêm tai giữa và xương chũm. Đặc biệt nguy hiểm là dạng cholesteatoma nằm trong các hốc hẹp của vùng thượng nhĩ gây nên sự phá huỷ xương kín đáo.
Một dạng khác hiếm gặp hơn là cholesteatoma phát triển ngay trong ống tai. Những nút cholesteatoma ăn lõm sâu vào thành xương ống tai ngoài. Nó có thể xâm lấn vào xương chũm ở phía sau tai. Nó có thể xâm lấn gây liệt mặt sớm qua vị trị chia nhánh dây thần kinh thừng nhĩ đi ra từ đoạn xương chũm của dây VII.
Tuỳ theo vị trí xâm lấn cholesteatoma có thể gây điếc dẫn truyền nặng, điếc tiếp nhận, viêm mê nhĩ và liệt dây thần kinh VII.
 
Trong chữa trị cần lấy bỏ hết tổ chức cholesteatoma, kiểm tra kỹ mọi ngóc ngách nghi ngờ dưới sự soi sáng của kính hiển vi phẫu thuật và ống nội soi tai.
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Viêm vòi nhĩ & Viêm tai giữa

Về mặt giải phẫu và sinh lý bệnh vòi nhĩ - Eustachian Tube được coi là một phần nối dài của hòm nhĩ tạo nên tai giữa. [H1] Chức năng của vòi nhĩ là cân bằng áp xuất giữa hòm tai giữa với môi trường duy trì sự truyền âm, bảo vệ tai giữa tránh những âm quá lớn, bài tiết dịch nhày sinh lý từ hòm nhĩ ra mũi họng. Bình thường vòi tai chỉ mở khi ngáp & nuốt. Trong bệnh lý viêm mũi xoang vùng cửa loa vòi nhĩ là nơi tập kết mủ dịch viêm gây phù nề vòi nhĩ, tắc vòi nhĩ rồi dẫn đến viêm tai giữa. Vì mối liên quan này, mỗi triệu chứng viêm tắc vòi tai như ù tai, ngứa tai, nghe kém, đau tai hoặc viêm tai giữa đều gián tiếp phản ánh một tình trạng viêm mũi xoang tiềm ẩn. Bệnh lý xoang là có trước, là nguyên nhân gây viêm vòi nhĩ và tai giữa [H2, H3].

 
H1- Tai giữa thông với vòm họng qua vòi tai



Kỹ thuật Thủy Trần: Hút mủ từ vòi tai trái
 


H2 - Mủ hút từ xoang hàm trái
                                                                            1. Mủ từ xoang hàm trái
                                                                            2. Nhĩ đồ bệnh lý: tắc vòi nhĩ, mủ trong tai giữa
                                                                            3. Thính lực đồ điếc dẫn truyền tai phải
                                                                            4. Thính lực đồ điếc dẫn truyền tai trái




H3 - Viêm mũi xoang & viêm tai keo
 
                                                          1. Màng nhĩ bệnh lý trong viêm tai keo
                                                          2. Đặt ống tai dẫn lưu mủ
                                                          3. Nhĩ đồ bệnh lý viêm tai keo
                                                          4. Thính lực đồ điếc dẫn truyền tai phải
                                                          5. Thính lực đồ điếc dẫn truyền tai trái

 
Triệu chứng viêm xoang ẩn trên bệnh nhân nghe kém, ù tai

______________________________________________________________


Viêm tai giữa cấp
Acute Otitis Media - AOM


Triệu chứng

Đau tai, nghe kém kiểu dẫn truyền, chẩy mũi, ho, sốt, nhiễm khuẩn hô hấp rầm rộ, trẻ nhỏ thường có kèm theo chứng trào ngược thực quản.

Nội soi tai thấy màng nhĩ đỏ rực, phồng, bóng mủ trong hòm tai, có thể đã tự vỡ mủ.
Màng tai có thể dầy cộm hồng xạm: là hình ảnh viêm tai cấp chuyển thể từ bệnh Viêm tai tiết dịch [Otitis Media with Effusion - OME ] [H1]. Niêm mạc mũi họng phù viêm tiết dịch nhày, mủ.

Xử lý:  

1- Chích rạch màng nhĩ ở ¼ sau hoặc trước dưới dẫn lưu mủ. Đặt ống thông khí nếu bệnh là biến thể từ một viêm tai tiết dịch [H2].
 2- Hút rửa dịch mủ viêm khoang mũi họng & vòi tai [Kỹ thuật Thủy Trần]

 3- Nạo VA nếu khối VA to che lấp vòi tai, cản thông khí
Điều trị kịp thời theo qui trình trên bệnh chuyển biến nhanh chóng, tiên lượng tốt, không để lại di chứng, tránh dùng kháng sinh toàn thân.

 


 

 H1 - Màng tai viêm tai giữa cấp
biến chuyển từ một viêm tai tiết dịch

 


 

 H2 - Tháo mủ & đặt ống thông khí

______________________________________________________________
 
Viêm tai tiết dịch
Otitis Media with Effusion - OME

Bệnh được gọi với những tên khác nhau: Viêm tai tiết dịch, viêm tai keo, viêm tai thanh dịch, viêm tai màng nhĩ đóng kín. Thuật ngữ quốc tế là OME - Otitis Media with Effusion

TRIỆU CHỨNG

OME là dạng viêm tai kín đáo gần như không có triệu chứng [ còn được gọi là asymptomatic ] màng nhĩ đóng, ứ dịch, keo bên trong hòm tai giữa, vòi nhĩ mất chức năng, thính lực giảm. Người lớn và trẻ lớn có thể cung cấp triệu chứng nghe kém, ù tai, bức bách trong tai. Soi tai: màng nhĩ mất di động, dầy cộm, phồng hoặc phẳng hoặc lõm bất thường, mầu hồng xạm, xám, có thể thấy mức nước, múi dịch mủ trong hòm tai giữa, hoặc màng tai dính vào đáy hòm nhĩ. Ở trẻ nhỏ vì không phát hiện được triệu chứng khách quan nên bệnh dễ bị bỏ sót chẩn đoán, khi phát hiện có thể đã muộn, thường đã để lại di chứng.
Đo nhĩ đồ: Nhĩ đồ bẹt, hoặc đỉnh thấp nằm trên vùng áp lực âm bên trái. Thính lực đồ có nghe kém kiểu dẫn truyền, mất từ 25-40dB, ngôn ngữ chậm phát triển do không nghe được; Một số ít trường hợp có điếc thể thần kinh, do bệnh lý đã gây tổn thương tai trong.

CƠ CHẾ BỆNH LÝ

Trên những bệnh nhân OME các nhóm thông bào khí trong xương thái dương rất phát triển [ bao gồm nhóm tế bào xương chũm, nhóm quanh mê nhĩ, nhóm mỏm xương đá], dịch từ những nhóm thông bào này đổ vào tai giữa, rồi từ đây qua vòi nhĩ để xuống vòm mũi họng: Trong bênh cảnh viêm tai tiết dịch vòi nhĩ tắc, mất chức năng thông khí nên dịch ứ lại trong hòm tai giữa.

Theo Hentzer [9] niêm mạc tai giữa là niêm mạc đường thở biến dị, không còn lông chuyển - nonciliated cell - trong đó tế bào hình cốc đóng vai trò đặc trưng tiết nhầy của tai giữa và vòi nhĩ.

Viêm tai tiết dịch thường xẩy ra trên trẻ nhỏ có cơ địa dị ứng, miễn dịch kém: niêm mạc hô hấp mũi xoang tai giữa vòi nhĩ tăng tiết dịch. Dịch tiết từ hệ thống thông bào trong xương thái dương có một khối lượng khổng lồ, hòm tai giữa chỉ như một trạm trung chuyển dịch mà thôi. Dịch có thể nhày, thanh dịch, hoặc có dạng, keo dính, hoặc đổi mầu vì có nhiễm khuẩn.

Bệnh lý viêm tai tiết dịch này còn liên quan đến chứng trào ngược thực quản, dịch nhiễm khuẩn thức ăn có thể trào vào tai giữa qua vòi Eustachian, làm tăng tính viêm nhiễm phối hợp của viêm tai keo, gây bệnh kéo dài khó dứt.

Xử lý 

  1- Chích mở màng nhĩ ở ¼ sau dưới hoặc trước dưới, dẫn lưu dịch keo, đặt ống thông khí.
  2- Hút rửa khoang mũi họng điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, vòi tai [ Kỹ thuật Thủy Trần ]

  3- Nạo VA nếu VA to che lấp vòi tai gây mất thông khí vòi tai.
  4- Chữa trào ngược thực quản: Cho trẻ ăn đúng cách: Chia nhỏ bữa, ăn trong tư thế đầu cao, bữa tối ăn cách xa giấc ngủ đêm khoảng 3 tiếng để tránh dịch thực quản trào lên mũi họng, qua vòi tai vào tai giữa.
Thính lực sẽ cải thiện ngay sau khi đặt ống thông khí, trừ trường hợp đã bị điếc kiểu thần kinh.

Theo rõi sau đặt ống thông khí

Thông thường ống thông khí có thể nằm lại trong màng tai lâu từ một vài tháng có khi lâu hơn nữa. Khi chức năng vòi nhĩ trở lại bình thường ống thông khí sẽ tự đẩy ra khỏi tai giữa và màng nhĩ sẽ tự liền lại.
Sau khi điều trị khỏi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân hồi phục. Sự theo rõi không có một lộ trình đặc biệt về mặt thời gian, phụ thuộc vào mức độ chảy dịch và mủ. Nếu dịch tiếp tục chảy chỉ cần lau cửa tai bằng bông sạch, cắt tóc mai ngắn để tránh gây nhiễm trùng vào tai.
Nếu có mủ đặc là OME đã nhiễm khuẩn. Cần được điều trị kháng sinh uống, vệ sinh làm thuốc tai, hút rửa dịch nhày ứ đọng ở ống thông khí, tránh bít tắc. Bình thường ống thông khí nằm trong tai bệnh nhân êm ái không gây nên một dấu hiệu bất thường nào. Nếu đột nhiên bệnh nhân có sốt hoặc đau tai là báo hiệu ống thông khí bị bít tắc và dịch viêm bị ứ lại bên trong tai giữa: cần nội soi để làm vệ sinh hút rửa. Bệnh nhân điều trị theo qui trình trên đều khỏi bệnh.

Ở người lớn cao tuổi màng nhĩ sau quá trình viêm đã trở nên teo mỏng mạch máu nuôi dưỡng rất hạn chế, ống thông khí có thể không tự đẩy ra khỏi màng nhĩ trong một thời gian dài hơn những người trẻ tuổi, hoặc sau khi ống thông khí bật ra, tai khô nhưng màng tai khó liền lại.

Biến chứng của việc đặt ống thông khí rất hiếm khi xẩy ra.
Do những viêm nhiễm phối hợp của ống tai ngoài, do lượng mủ đặc keo dính, có áp lực mủ nhày lớn đột biến gây chệch vị trí ống thông khí, ống có thể bị đẩy ra ngoài ống tai ngoài hoặc lọt vào trong hòm nhĩ. Xử lý đặt lại ống thông khí vào đúng vị trí.

Biến chứng của viêm tai tiết dịch

- Nghe kém kiểu truyền âm, một số ít nghe kém kiểu tiếp âm.
- Viêm xương chũm: Nếu không được dẫn lưu dịch qua ống thông khí dịch keo ứ đọng trong tai giữa gây nên viêm tai giữa mủ và viêm xương chũm.
- Xẹp màng nhĩ vào thành trong hòm nhĩ gây nên nghe kém nặng vì hòm nhĩ và hệ thống các xương nghe của tai giữa trở nên một khối kết dính không còn giữ được chức năng truyền âm, gây điếc dẫn truyền nặng. Số ít có thể gây nên nghe kém kiểu tiếp nhận. 
- Chảy tai kéo dài và hay tái phát do trào ngược thực quản: bệnh lý này giống như cái bơm tự động không ngừng bơm dịch nhiễm khuẩn của đường tiêu hóa lên tai giữa qua vòi tai.
 
Kết quả điều trị

Với một tỷ lệ rất thấp bệnh nhân viêm tai keo có nghe kém kiểu tiếp nhận - hay còn gọi là kiểu thần kinh do quá trình viêm đã tấn công vào vùng tai trong việc đặt ống thông khí chỉ  là để dẫn lưu mủ dịch viêm ra khỏi cơ thể, thính lực sẽ không hồi phục.

Đại đa số trường hợp viêm tai keo nghe kém kiểu truyền âm, quá trình viêm keo chỉ khu trú ở tai giữa, sau khi đặt ống thông khí thính lực cải thiện ngay. Mủ và dịch viêm được đẩy ra ngoài cơ thể, sức khoẻ cải thiện, không để lại di chứng.

Một số ít bệnh nhân người lớn, do dị ứng tăng tiết dịch của các thông bào khí trong xương thái xương, do hội chứng trào ngược thực quản phối hợp gây nên tình trạng dịch tai chảy kéo dài, hoặc hay tái phát ống thông khí không tự đẩy ra khỏi màng tai.

Di chứng của viêm tai tiết dịch

Nếu không được điều trị đúng sẽ để lại di chứng gây xẹp màng nhĩ vào đáy nhĩ, nghe kém không hồi phục. hoặc chuyển thành viêm tai giữa mủ.


Không điều trị

Có một tỷ lệ nhỏ bệnh viêm tai keo có thể tự khỏi, có thể để lại di chứng nghe kém.
 



Ví dụ 1: Màng nhĩ trong viêm tai keo - chích màng tai đặt ống thông khí




Ví dụ 2: Viêm tai keo hai bên, điếc hỗn hợp 2 tai & nhĩ đồ bệnh lý



Ví dụ 3 - Viêm tai keo bên trái
______________________________________________________________


Ù tai
Tinnitus

Trong bệnh học thuật ngữ ù tai là muốn nói đến thể ù tai có âm ở tần số cao. Trong thực tế người bệnh phàn nàn ù tai bao gồm cả những tiếng ù tai tiếng trầm:

Ù tai là triệu chứng của những tổn thương bệnh lý đã tác động đến những vi điểm tận cùng của thần kinh thính giác. Ù tai chủ quan là triệu chứng tự người bệnh cảm nhận thấy. Ù tai khách quan là tiếng ù người ngoài có thể nghe được, là âm thanh phát ra từ tiếng mạch máu đập bất thường quanh vùng tai hoặc do sự co thắt của các cơ vòi nhĩ.
 
Ù tai tiếng trầm có thể kèm theo đau tức trong tai là do viêm tắc vòi tai, viêm tai giữa, viêm tai keo, hoặc do bệnh của chuỗi xương nghe bị cố định trong bệnh xốp xơ tai (otosclerosis), hoặc những tiếng lách cách, hoặc cảm giác bí bách trong tâi gây nên do những khối ráy tai nút ống tai ngoài.
 
Ù tai có âm sắc tần số cao như tiếng ve kêu gây ra do những tổn thương đã xâm lấn vào vùng tai trong thường kèm theo điếc tiếp nhận, có thể kèm theo những rối loạn thăng bằng. Ở người cao tuổi ù tai thường gặp do cao huyết áp hoặc hạn chế nuôi dưỡng của mạch máu gây thiểu năng tuần hoàn mạch máu tai trong, sẽ kèm theo giảm thính lực ở tần số cao. Ở người trẻ chấn thương do âm thanh quá vang mạnh cũng dẫn đến ù tai. Ù tai có thể gây nên do bệnh dị ứng, bệnh đái tháo đường, bệnh tuyến giáp, chấn thương đầu cổ, đặc biệt là chấn thương xương thái dương, ngộ độc thuốc, phản ứng với các thuốc chống viêm, kháng sinh, thuốc giảm đau.

Ù tai do khối u giây thần kinh thính giác (VIII): Tiếng ù tai âm sắc cao, nghe như tiếng gió thổi, kéo dài từ ba tháng trở lên là triệu chứng của khối u giây thần kinh thính giác.
 
ĐIỀU TRỊ
 
Việc điều trị ù tai sẽ khác nhau tuỳ thuộc nguyên nhân gây bệnh. Tuy nhiên, nguyên nhân không phải dễ xác định.
- Lời giải sẽ không khó khăn với những tiếng ù trầm nguyên nhân do viêm tai giữa, viêm tắc vòi nhĩ do viêm xoang, tắc vòi nhĩ do khối u vòm họng, xốp xơ tai thể truyền âm, nút ráy tai.
- Với những nguyên nhân tác động vào tai trong cần loại trừ khối u giây VIII. Với  những nguyên nhân còn lại, việc dùng thuốc được coi như phép thử. Những thuốc giúp tăng tuần hoàn mạch máu tai trong như: papaverine, divascol, stugerol, cavinton, Ringstop, Hearall, sinh tố nhóm B.

Cần chủ động tránh bệnh phát triển với những cách sau:
Tránh tiếng ồn, kiểm tra huyết áp, chế độ ăn giảm muối vì lượng muối cao tác động tiêu cực vào tuần hoàn máu, tránh chất kích thích như cà phê-rượu-thuốc lá, thể dục và nghỉ ngơi thích hợp.
 
Các thuốc điều trị ù tai là không hiệu quả.

 


Cuộn để xem tiếp
Gửi lời nhắn
Gửi
Thuy Tran Otolaryngologic Clinics
Thuy Tran Otolaryngologic Clinics
Thuy Tran Le MD., PhD, Head of Clinics
Ex.Vice Director of Việt Nam National Hospital of Otolaryngology
Number 6 Do Quang str. Hanoi
Email: thuyent12@gmail.com
Website: https://xoang.vn
               https://taimuihongthuytran.com
Đóng
ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH
Bạn có thể gọi số: 024 3556 6124 - 098 368 0276
hoặc điền thông tin đăng ký khám bệnh vào form bên dưới
CHÚ Ý ĐĂNG KÝ THEO LỊCH SAU:
Sáng 8-12h, chiều 13-16h (trừ chiều thứ 5, thứ 7,
ngày chủ nhật, ngày lễ)