English
Vietnammese
PHÒNG KHÁM TAI MŨI HỌNG THỦY TRẦN
Tiến sĩ Trần Lệ Thủy
Số 6 Phố Đỗ Quang, Hà Nội
Email: thuyent12@gmail.com
Giờ làm việc
Sáng: 9h00 - 12h00; Chiều: 13h30 - 18h00
Nghỉ: ngày lễ, chủ nhật, chiều thứ 5 & chiều thứ 7

Ho - Viêm họng - Amidan



HO - VIÊM HỌNG - AMIDAN

Trần Lệ Thủy MD., Ph.D
Trần Minh Trang MD., MSc
Websites: taimuihongthuytran.com & xoang.vn

 

Ho kéo dài & Viêm mũi xoang mãn
Chronic Cough & Chronic Rhinosinusitis 
 
Tóm tắt
 
HO KÉO DÀI [HKD] là một vấn đề thách thức với người thầy thuốc tai mũi họng. Tác giả đưa ra một sự phân loại nguyên nhân gây HKD và giải pháp điều trị triệt để. Nhóm nguyên nhân số 1: là các bệnh nhiễm khuẩn không đặc hiệu đường hô hấp, biến thể của một viêm mũi xoang mạn tính - Chronic Rhinosinusitis – CRS[1], với sự tham gia của yếu tố dị ứng và bệnh trào ngược dạ dày thực quản - Gastroesophageal Reflux Disease [GERD]. Nhóm nguyên nhân số 2: là các tổn thương lao, suy giảm miễn dịch, khối u, ung thư trên trục đường hô hấp, dị vật đường thở bị bỏ quên.
Nghiên cứu chủ động trên 66 bệnh nhân CRS trong số đó có 35 bệnh nhân HKD thuộc nhóm nguyên nhân số 1: Chiếm tỷ lệ 35/66 tổng số bệnh nhân CRS đến điều trị tại Clinic Thủy Trần từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2011.  Bệnh được xác chẩn và điều trị với kỹ thuật Thủy Trần [2]; Trong số 35 bệnh nhân HKD có 31 trường hợp có cấu trúc bất thường của cuốn giữa và mỏm móc đã được điều trị ngoại khoa kỹ thuật mổ nội soi tối thiểu phối hợp [2]. Kết quả khỏi hẳn triệu chứng HKD và hêt tất cả các triệu chứng khác của bệnh lý CRS,  đã được theo rõi sau mười tám tháng.
  
Abstract

CHRONIC COUGH & CHRONIC RHINOSINUSITIS
Thuy Tran Le
 
Chronic cough is always a challenge with the entire Otolaryngologist; the question is to realize clearly the reasons of that symptom and radical treatment of root disease.
The author has offered a subjective judgment of classification of the reasons of chronic cough according to as groups followings: First group is the Chronic Rhinosinusitis - CRS [1] that explored with the symptoms of non - specific infectious diseases of airways, allergy and Gastroesophageal  Reflux. Second group includes tuberculoses, tumors, cancer and immunodeficiency disorders on the respiratory tract.
We had a clinical research on 66 patients of CRS, in which having 35 patients with the symptom of chronic cough of the first group at the Thuy Tran ENT Clinic, from June-December of 2011. The disease of CRS was diagnosed, all treated by the Thuy Tran technique [2]. The surgery had combined on 31/35 patients who had abnormal anatomy of middle concha and uncinate process with the mini FESS. The results were excellent and following up after treatment 18 months.
 
ĐẶT VẤN ĐỀ
HKD luôn là một đề tài thời sự của y học thế giới, gây suy giảm sức khỏe và chất lượng sống của người bệnh. HKD khó kiểm soát nguyên nhân; trong y văn HO đã luôn được đề cử như một vấn đề nội khoa đã có nhiều loại thuốc điều trị HO ra đời nhưng kết quả là hạn chế. Mục đích nghiên cứu lâm sàng của Trần Lệ Thủy là kiểm soát nguồn gốc bệnh tác động trên niêm mạc cả trục đường hô hấp dẫn đến phản xạ bảo vệ của thanh quản gây nên HKD, chữa trị triệt để nguồn bệnh, bao hàm cả sự lựa chọn chỉ định điều trị ngoại khoa.  HKD do CRS là đối tượng của nghiên cứu này.
 
GIỚI THIỆU
HO KÉO DÀI - Chronic Cough - chưa có một định nghĩa chính thức trong y văn. Có thể gọi là ho kéo dài khi hiện tượng này xẩy ra trong khoảng ba mươi ngày.
 
Theo Kirchner [3] hai dây thanh được coi là thành phần cơ học sinh ra triệu chứng ho. Sự đóng của hai dây thanh không hoàn thiện là thành phần thiết yếu của cơ chế ho, bởi vì giây thanh không thể một mình chống lại luồng không khí từ phổi. Khi áp lực khí ở hạ thanh môn đạt tới một mức nào đó thì cơ chế co thắt cơ đột nhiên giãn ra, áp lực khí ở vùng dưới thanh môn giảm. Đường khí mở và luồng khí thoát ra nhanh với dung lượng lớn và tạo nên một lực lớn đã tống ra khỏi thanh quản dịch nhày và các vật chất gây kích thích ho [3,4]. Liden & Ishiki năm 1965 [3] đã nghiên cứu sự vận động của thanh quản trong khi ho, đã ghi lại hình ảnh hoạt động giây thanh ở tốc độ cao từ 3000-5000 ảnh trong một giây. Tác giả đã gọi đó là hiệu ứng Bernoulli, gây nên những vận động của niêm mạc hạ thanh môn khí đi qua khe hẹp thanh môn áp lực dịch nhầy trở nên cực mạnh. Các nhánh thần kinh hướng tâm của giây Vagus và Glossopharyngeal cùng chi phối tạo ra những kích thích trong thanh quản [3]. Woodson [4] chia phản xạ ho thành hai pha. Pha đầu là là sự hít vào, thanh quản mở rộng, không khí được hít sâu vào phổi. Pha thứ hai là sự nén, là pha đóng thanh môn gây nên do tác động mạnh vào các cơ gây doãng đường khí và tạo nên thì thở ra.
 
Có thể định nghĩa HKD là phản xạ tự bảo vê của các cơ hô hấp co thắt tự nhiên để tống ra khỏi đường thở những vật chất lạ gây kích thích niêm mạc giây thanh từ một nguồn viêm kéo dài. Vật chất lạ này không chỉ là sản phẩm từ nguồn bệnh CRS tràn xuống họng thanh quản, và GERD [2], chúng còn là dịch nhày vật chất lạ kích thích từ phổi [4]. Cole [5] đã chứng minh sự di chuyển của dịch nhầy bệnh lý trên bề mặt niêm mạc đường hô hấp; khái niệm cơ bản này đã cho phép ta tìm điểm khởi thủy của nguồn bệnh trên trục đường giải phẫu liên quan này và CRS vì vậy được coi là ổ viêm nhiễm gốc của các viêm nhiễm khác trên đường hô hấp.
 
Benninger [6] đã đưa ra hai bảng liệt kê các triệu chứng chính và phụ của CRS, tác giả xếp HO là một triêu chứng phụ - minor symptom; Tác giả kết luận rằng chẩn đoán dương tính CRS cần có hoặc là hai triệu chứng chính hoặc là một triệu chứng chính và hai triệu chứng phụ. Ngược lại ý kiến này, Thủy Trần trong nghiên cứu của mình đã có đánh giá cao về giá trị của triệu chứng HKD trong chẩn đoán CRS [2]. Vấn đề HKD đến đây đã đưa chúng ta trở lại với CRS, trở lại với những giải pháp điều trị tích cực và trong đó có chỉ định ngoại khoa mổ nội soi chức năng mũi xoang: FESS [7] & Mini FESS [8].
 
PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu chủ động trên nhóm 66 bệnh nhân được xác chẩn là  CRS đến khám chữa bệnh tại Clinic Thủy Trần từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2011; trong đó số bệnh nhân có triệu chứng HKD là 35 người.
 
A. PHÂN LOẠI NGUYÊN NHÂN HO KÉO DÀI
Chúng tôi sắp xếp thành hai nhóm nguyên nhân gây HKD như sau:
Nhóm một bao gồm các viêm nhiễm mạn tính không đặc hiệu xẩy ra trên trục đường hô hấp, có thể phối hợp với dị ứng và GERD trong đó nguồn gốc là CRS.
Nhóm hai là các bệnh lao phổi, thanh quản, u phổi, suy giảm miễn dịch, dị vật đường thở bị bỏ quên.
 
B. MẪU NGHIÊN CỨU HO KÉO DÀI DO CRS & GERD
   
Nhóm một là đối tượng trong nghiên cứu của báo cáo này.
Nghiên cứu trên 35 bệnh nhân có triệu chứng ho thuộc nhóm một: Chiếm tỷ lệ 35 trong tổng số 66 bệnh nhân CRS được khảo sát.
Bao gồm 19 nữ và 16 nam, tuổi từ 9-56.
 
CHẨN ĐOÁN
                        Chẩn đoán 35 trường hợp CRS có triệu chứng HKD
                        Trong số 35 bệnh nhân này có 7 bệnh nhân có GERD
  
1. Chẩn đoán lâm sàng




Nhận xét
Triệu chứng HKD chiếm 35/35 trường hợp, trong khi triệu chứng ở mũi, họng và tai xẩy ra ít hơn.


2. Chẩn đoán hình ảnh
 

 
 
a. Khám nội soi có chuẩn bị - Kỹ thuật Thủy Trần [2]: 35/35

Đặt thuốc tê và co mạch giảm đau, giảm phù nề để mở rộng các khe mũi, sàn mũi, đường dẫn lưu của hệ thống xoang, hút rửa những vật chất là mủ khô, mủ đặc, mủ loãng để xác chẩn CRS.
 
Đánh giá sự bất thường cấu trúc của vùng phức hợp các lỗ ngách - Ostiomeatal Complex - OMC [8]: Nổi bật là cuốn giữa kích thước bất thường [polips, quá phát, đảo chiều,  xoang hơi] và mỏm móc quá phát triển. Có 31 trong số 35 bệnh nhân có chỉ định mổ nội soi chức năng tối thiểu. Những dị hình này đã gây cản trở dẫn lưu dịch mủ từ trong hệ thống xoang trước [trán, sàng và hàm] không ra mặt trước hốc mũi, sự chảy dịch chỉ đi qua đáy của khe OMC xuống họng thanh quản, phế quản, kích thích thanh môn gây phản xạ HKD; Những dị hình này ở một mức độ nào đó đã làm cho bệnh cảnh CRS thiếu vắng những triệu chứng lâm sàng ở mũi, khác với triệu chứng học CRS đã được sách giáo khoa kinh điển mô tả [1,2,6].
 
 BẤT THƯỜNG CUỐN GIỮA & MỎM MÓC    31/35
 
b. Chụp phim X quang xoang & phổi:              35/35
Chụp phổi xác định có thể có viêm phế quản phối hợp, và loại trừ các nguyên nhân HKD thuộc nhóm hai.
 
 3. Soi tươi tìm nấm ở họng                               35/35
           Dương tính với nấm Candida     14/35
  

ĐIỀU TRỊ





KẾT QUẢ




THẢO LUẬN
 
Phân loại nguyên nhân gây HKD đã làm rõ vai trò nhiễm khuẩn, nhiễm nấm của đường hô hấp trong cơ chế Ho. Lý luận của Cole [5] về quá trình vận chuyển dịch nhày của niêm mạc mũi xoang đổ ra đường hô hấp là cơ sở để tác giả tìm nguồn gốc CRS. Như vậy, niêm mạc của cả trục đường hô hấp bị kích thích nhưng phản xạ gây ho chỉ xẩy ra ở thanh quản.
Lanza & Kennedy trong định nghĩa CRS [1] và kết luận mới đây của Bininger [6] đều xác nhận HO la triệu chứng lâm sàng trong CRS.
Nghiên cứu của chúng tôi đã chứng minh HKD là sản phẩm hữu hình của quá trình viêm nhiễm kéo dài trên đường hô hấp có cội nguồn là CRS.
Trên cơ sở giải phẫu sinh lý và bệnh lý niêm mạc đường hô hấp: bệnh lý CRS đã là một nguồn bệnh thường xuyên đưa mủ dịch viêm qua khoang mũi xuống họng, thanh quản phế quản và nuốt vào đường ăn gây GERD. Thuật ngữ “Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em “ đã thông dụng trong y văn. Nhưng ở người trưởng thành những viêm mạn tính ở họng thanh quản thường hay bị tách khỏi bệnh cảnh chung của quá trình viêm đường hô hấp trên.
Xa hơn nữa là đường hô hấp dưới, phế quản viêm mạn cũng là sản phẩm của CRS. Có thể chứng minh cơ chế này bằng phản chứng: Rửa xoang đưa mủ ra ngoài.
GERD cũng nằm trong khối liên minh bệnh lý này. CRS đã thường xuyên tống dịch viêm mủ xuống ngã ba đường ăn và đường thở, người bệnh đã nuốt nó khi ngủ và từ đây phát sinh ra GERD.
GERD cũng có thể được coi là sản phẩm của CRS
 
Xác chẩn chứng minh cho những giả thuyết trên:
1. Giải pháp kỹ thuật nội soi có chuẩn bị của Thủy Trần [2] cho hình ảnh lâm sàng của CRS. Trần lệ Thủy coi HKD là triệu chứng có ý nghĩa xác định CRS; các triệu  chứng lâm sàng khác của CRS xuất hiện có khác với lý thuyết kinh điển của sách giáo khoa hiện hành [6].
2. Nội soi có chuẩn bị quan sát được cấu trúc giải phẫu hốc mũi, đánh giá được sự bất thường của vùng OMC - Sự bít tắc mặt trước của khoang OMC đã làm cho mủ dịch viêm của xoang hàm, sàng trước và xoang trán không chảy được ra phía trước, dịch này đã chỉ tìm đường dẫn lưu qua đáy máng OMC để xuống họng, thanh quản và phế quản, gây HKD [31/35 trường hợp có cuốn giữa quá phát - xoang hơi và mỏm móc quá phát]. Trong khi các xoang sàng sau và xoang bướm luôn dẫn lưu tự nhiên là chẩy xuống họng, thanh quản, phế quản [2].
3. Bản chất CRS đã được bộc lộ sâu sắc trong quá trình điều trị với kỹ thuật Thủy Trần; Khi mủ trong mũi xoang hết bệnh nhân hết ho.


 
KẾT LUẬN

Loại trừ các nguyên nhân HKD thuộc nhóm hai ta chỉ còn lại những người bệnh HKD thuộc nhóm một - do viêm nhiễm không đặc hiệu của đường hô hấp và GERD. Kết quả nghiên cứu lâm sàng tại Clinic Thủy Trần đã cho phép đưa ra nhứng kết luận và ứng dụng sau:
      1. HKD không còn là vấn đề nội khoa, thuốc ho ít tác dụng 
      2. HKD là triệu  chứng bệnh có ý nghĩa của CRS 
     3. HKD là bệnh lý nhiễm khuẩn của cả đường hô hấp được phản xạ bảo vệ của thanh quản lên tiếng Ho 
      4. GERD cũng là sản phẩm của CRS 
      5. HKD là vấn đề ngoại khoa 
      6. HKD là vấn đề kiểm soát được 
      7. Kỹ thuật Thủy Trần là giải pháp hiệu quả trong chẩn đoán & điều trị HKD
     8. CRS dị ứng gây HKD cũng được coi là một bệnh nhiễm trùng vì sự bội nhiễm vi khuẩn đã luôn đi cùng đường với dị ứng.  

  
THAM KHẢO


1. Lanza DC, Kennedy DW. Adult Rhinosinusitis defined. Otolaryngol Head and Neck Surg. September 1997, 117[3] S1-7.
2. Thủy TL: Kỹ thuật điều trị tại chỗ viêm mũi xoang mạn tính theo Thủy Trần. Nội san Hội Nghị Khoa Học Tai Mũi Họng Toàn Quốc 2012. Huế 8-9/6/2012, pp: 180-185. 
3. Kirchner JA: Physiology of Larynx, in Paparella- Otolaryngology, Saunders com, 3th ed., 1991, Volum 1, Chapter 13,pp: 336-342
4. Woodson GE: Laryngeal and Pharyngeal Function. In Cummings-Otolaryngology Head & Neck Surgery. Mosby Elsevier, 5th ed, 2010, Volume one, Chapter 56, pp: 805-812  
5. Cole P: Physiology of the Nose and Paranasal Sinuses. In M. Eric Gershwin and Gay A InCaudo[ed] Diseases of the sinuses A Comprehensive textbook of Diagnosis and Treatment. Humana Press, 1996, pp: 33-35
6. Benninger MS: The Pathogenesis of Rhinosinusitis, in Cummings Otolaryngology Head and Neck Surgery,Mosby Elsevier, 5th ed, 2010, Volume one, Chapter 47, pp ;703-7-8
7. Kennedy DW, Zinreich SJ, Rosenbaum AE. Et al. Functional Endoscopic Sinus Surgery: theory and diagnostic evaluation Arch Otolaryngol.1985;111:576-582
8. Ruben C, Setliff lii. Minimally Invastive Sinus Surgery. The rationale and technique. In Parsons DS. The Otolaryngologic Clinics ofNorth America Pediatric Sinusitis. PP: 115-128,1996.
 
 















 
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 

Viêm họng mãn tính & Viêm mũi xoang mãn tính
Sore throat and Chronic Rhinosinusitis 
 
Viêm họng là một tập chứng của nhiều rối loạn bệnh lý. Viêm nhiễm có thể nguyên phát ở họng hoặc do nguồn bệnh đến từ hệ thống mũi xoang, viêm phổi, hoặc trào ngược thực quản dạ dầy. Viêm có thể do nhiễm nấm, siêu vi trùng, nhiễm lạnh, tăng bạch cầu (mononucleosis), nhiễm khuẩn các chủng phổ biến như streptococcus, hemophilus.
 
Viêm họng cấp

- Một là do virus: Lây lan nhanh chóng. Triệu chứng là đau rát họng, ho, luôn kèm theo các triệu chứng tắc mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, đau cơ, mỏi mệt, có thể sốt. Điều trị bằng súc rửa mũi, họng, cho kháng sinh để chống nhiễm khuẩn phối hợp. Bệnh thường kết thúc sau một tuần.
Thể nặng có thể kèm theo sưng tấy vùng tonsils (amidan), sưng hạch cổ, có thể có phù nề cả vùng nắp sụn thanh thiệt, thanh quản gây khó thở vì lòng đường thở bị thu hẹp lại do phù viêm, có thể khó nuốt. Thể này có thể kéo dài bốn tuần lễ và luôn có sự tham gia phối hợp của vi khuẩn.
- Hai là do vi khuẩn: điển hình là Streptococcus. Thể này có thể kèm theo viêm cơ tim, thận, viêm phổi, viêm mũi xoang, có thể viêm vòi nhĩ và tai giữa. Điều trị kháng sinh liều cao toàn thân và tại chỗ tác dụng tốt. Vùng mũi họng cần được hút rửa bằng nước muối sinh lý Natri Clorid 0,9%, đưa dung dịch kháng sinh tưới rửa cả khoang mũi họng. Vi khuẩn từ hệ thống xoang lan xuống qua dịch mủ do tình trạng viêm mũi xoang mạn tính hoặc cấp tính.
- Ba là, do dị ứng bởi các yếu tố kích thích thường gặp như phấn hoa, lông chó mèo, bụi nhà. Trên bệnh nhân luôn kèm theo triệu chứng dị ứng mũi xoang, hoặc nổi mẩn ngứa, hoặc có bệnh hen. Tuy nhiên, dị ứng luôn có bội nhiễm vi khuẩn.
- Bốn là, đờm mủ dịch viêm từ hệ thống mũi xoang viêm chảy xuống họng kích thích trực tiếp vào niêm mạc họng gây ho, gây đau rát họng. Nguyên nhân này thường gây bệnh tái đi tái lại nhiều lần cùng với chu kỳ viêm mũi xoang tái phát.
- Năm là, do trào ngược thực quản dạ dầy : Lòng thực quản viêm, nhược cơ thắt làm cho miệng thực quản thường xuyên mở đặc biệt vào lúc ngủ đã đưa dịch thực quản dạ dày tự do trào ngược lên họng, lên cả mũi xoang, tai và tràn sang cả thanh khí quản vào phổi.
Họng nằm ở giữa ngã ba đường ăn, đường thở vì vậy bệnh học của họng không thể tách rồi bệnh học của mũi xoang, và dạ dầy thực quản.
 
Viêm họng mạn tính

Những triệu chứng viêm nói trên ở vùng họng tái diễn, kéo dài trên bốn tuần được gọi là viêm họng mãn tính.
Nguyên nhân Khác hẳn nguyên nhân gây viêm họng cấp ở chỗ là luôn có vi khuẩn gây bệnh, hoặc dị ứng nhiễm khuẩn, hoặc dị ứng và nhiễm nấm phối hợp do nguồn viêm mạn tính từ hệ thống mũi xoang đưa mủ và vi khuẩn xuống niêm mạc họng, và có thể còn có sự tham gia phối hợp của bệnh trào ngược dạ dầy thực quản.
Post-Nasal Drips là thuật ngữ quốc tế chỉ tập chứng gây ra do dịch chảy từ hệ thống mũi sau xuống thành sau họng: Gây vướng họng, đau họng, ho, ngứa họng. Post-Nasal Drips có thể gây nên do viêm mũi xoang nhiêm khuẩn, nhiễm virus, nhiễm lạnh, đặc biệt phối hợp với một tình trạng viêm mũi xoang dị ứng, đi kèm với các triệu chứng dị ứng mũi như chảy nước mũi, ngứa mũi, ngạt mũi và hắt hơi. Những nguyên nhân phối hợp là hội chứng trào ngược thực quản dạ dầy, những rối loạn nội tiết, và suy giảm miễn dịch.
Post Nasal Drips thường xẩy ra kéo dài mạn tính với trạng thái dịch chảy xuống thành họng có thể nhầy, có thể đặc, có thể loãng, có thể đã nhiễm khuẩn có mầu sẫm, hoặc dịch có thể dính bám chắc vào niêm mạc họng gây nuốt vướng, gây buồn nôn, gây những khích thích bức bối vùng họng, hạ họng thanh quản.
Thực chất hội chứng Post Nasal Drips là bao gồm tình trạng niêm mạc họng viêm mạn tính.
Nguyên nhân viêm mũi xoang có thể dễ bị bỏ sót trong chẩn đoán khi hội chứng bệnh chỉ đơn thuần xuất hiện ở họng. Đây là hình ảnh lâm sàng đặc biệt của viêm mũi xoang thiếu vắng các triệu chứng bệnh bộc lộ ở mũi. Thông thường dịch viêm từ xoang sàng sau và xoang bướm chảy qua mũi sau xuống họng gây nên những triệu chứng bệnh ở họng; dịch viêm từ các xoang trán, sàng trước và xoang hàm thường thoát ra phía trước mũi gây nên triệu chứng chảy mũi, tắc mũi, ngứa mũi, hắt hơi. Với thể bệnh viêm mũi xoang mạn tính trên lâm sàng không có triệu chứng ở mũi có thể giải thích như sau: những dị hình giải phẫu hốc mũi như dầy vẹo vách ngăn, bóng sàng quá to, cuốn mũi xoang hơi hoặc quá phát, mỏm móc quá phát triển lấn át vào đường giữa làm cho mặt trước khe giữa bị bít kín. Dịch dẫn lưu từ hệ thống xoang trước sau khi tập kết ở vùng OMC phải tìm đường từ đáy khoang OMC qua sàn mũi chảy xuống mũi sau, rồi xuống họng.
 
Điều trị

- Tránh các yếu tố nghi ngờ dị ứng như phấn hoa, bụi nhà, lông súc vật, sợi bông vải, thực phẩm.
-  Điều trị triệt để hệ thống mũi xoang nhiễm khuẩn.
 
Điều trị nội khoa

Chống nhiễm khuẩn với các thuốc kháng sinh, phối hợp với kháng histamine tổng hợp, các thuốc làm loãng dịch nhày, và tăng khả năng miễn dịch.
Điều trị tại chỗ - chống phù viêm tích cực, nội soi rửa hốc mũi xoang và khoang họng với nước muối sinh lý 0,9% và dung dịch kháng sinh. Áp dụng Kỹ thuật Thủy Trần điều trị triệt để nguồn viêm mũi xoang mãn tính (tham khảo mục Viêm mũi xoang mãn tính & Kỹ thuật Thủy Trần trong trang web này).
 
Điều trị ngoại khoa

Chỉ định phẫu thuật nội soi FESS tối thiểu, cắt bỏ chọn lọc một phần các dị hình hốc mũi gây bít tắc vùng OMC - điển hình là cuốn giữa quá phát hoặc xoang hơi và mỏm móc quá phát, để giải phóng đường dẫn lưu các xoang phía trước. Sau mổ điều trị hút rửa hốc mũi, hệ thống xoang trước & sau, khoang họng với Kỹ thuật Thủy Trần. Bằng cách này tránh được chỉ định phẫu thuật vùng xoang bướm, tránh nguy cơ rủi ro.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 
Hội chứng chảy dịch mũi sau
Post - Nasal Drips

ĐỊNH NGHĨA:

Post nasal drips là thuật ngữ quốc tế chỉ tập chứng gây ra do dịch chảy từ hệ thống xoang qua mũi sau xuống thành sau họng: Gây vướng họng, đau họng, ho, ngứa họng. Post-Nasal Drips có thể gây nên do viêm mũi xoang nhiêm khuẩn, nhiễm virus, nhiễm lạnh, đặc biệt phối hợp với một tình trạng viêm mũi xoang dị ứng, đi kèm với các triệu chứng dị ứng mũi như chảy nước mũi, ngứa mũi, ngạt mũi và hắt hơi. Những nguyên nhân phối hợp là hội chứng trào ngược thực quản dạ dầy, những rối loạn nội tiết, và suy giảm miễn dịch.
Post Nasal Drips thường xẩy ra kéo dài mạn tính với trạng thái dịch chảy xuống thành họng dịch có thể nhầy, có thể đặc, có thể loãng, có thể đã nhiễm khuẩn có mầu sẫm, hoặc dịch có thể dính bám chắc vào niêm mạc họng gây nuốt vướng, gây buồn nôn, gây những khích thích bức bối vùng họng, hạ họng thanh quản.
Thực chất hội chứng Post Nasal Drips là phản ánh tình trạng niêm mạc họng viêm mạn tính.
Nguyên nhân viêm mũi xoang có thể dễ bị bỏ sót khi hội chứng bệnh chỉ đơn thuần xuất hiện ở họng. Đây là hình ảnh lâm sàng đặc biệt của viêm mũi xoang thiếu vắng các triệu chứng bệnh bộc lộ ở mũi. Thông thường dịch viêm từ xoang sàng sau và xoang bướm chảy qua mũi sau xuống họng gây nên những triệu chứng bệnh ở họng; dịch viêm từ các xoang trán, sàng trước và xoang hàm thường thoát ra phía trước mũi gây nên triệu chứng chảy mũi, tắc mũi, ngứa mũi, hắt hơi. Với thể bệnh viêm mũi xoang mạn tính nhưng không có triệu chứng ở mũi được giải thích như sau: những dị hình giải phẫu hốc mũi như dầy vẹo vách ngăn, bóng sàng quá to, cuốn mũi xoang hơi hoặc quá phát, mỏm móc quá phát triển lấn át vào đường giữa, bịt kín mặt trước khe giữa. Dịch dẫn lưu từ hệ thống xoang trước sau khi tập kết ở vùng phức hợp các lỗ ngách-OMC [Ostiomeatal Complex] phải tìm đường từ đáy khoang OMC qua sàn mũi chảy xuống mũi sau, rồi xuống họng.
 
ĐIỀU TRỊ:

- Tránh các yếu tố nghi ngờ dị ứng như phấn hoa, bụi nhà, lông súc vật, sợi bông vải, thực phẩm.
-  Điều trị triệt để hệ thống mũi xoang nhiễm khuẩn.
 
Điều trị nội khoa: 

Chống nhiễm khuẩn với các thuốc kháng sinh, phối hợp với kháng histamine tổng hợp, các thuốc làm loãng dịch nhày, và tăng khả năng miễn dịch.
Điều trị tại chỗ - chống phù viêm tích cực, nội soi rửa hốc mũi xoang và khoang họng với nước muối sinh lý 0,9% và dung dịch kháng sinh. Áp dụng Kỹ thuật Thủy Trần điều trị triệt để nguồn Viêm Mũi Xoang mạn tính.

Xem đường Linkhttps://taimuihongthuytran.com/ky-thuat-thuy-tran.htm
 
Điều trị ngoại khoa:

Chỉ định phẫu thuật nội soi FESS tối thiểu nếu những dị hình cấu trúc vùng phức hợp các lỗ ngách - OMC- Ostiomeatal Complex đã gây cản trở dẫn lưu dịch từ hệ thống xoang ra hốc mũi- cắt bỏ chọn lọc một phần các cấu trúc này để giải phóng đường dẫn lưu các xoang phía trước. Sau mổ điều trị hút rửa hốc mũi, hệ thống xoang trước & sau, khoang họng với Kỹ  thuật Thủy Trần. Bằng cách này tránh được chỉ định phẫu thuật vùng xoang bướm, tránh nguy cơ rủi ro.  

 
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 
Viêm Amidan
 
Có nên cắt Amidan không?
Đây là một vấn đề đã được các nhà tai mũi họng, dị ứng miễn dịch trên thế giới dầy công khảo sát, nghiên cứu và họ đã đưa ra nhiều chính kiến. Trong đó có những quan điểm có mâu thuẫn trái chiều nhau trong phương án chữa trị.

Amidan từ Việt Nam hóa từ chữ Amydala - hạnh nhân. Xung quanh vòm họng, vòi tai đáy lưỡi là một chuỗi các hạnh nhân này, tạo thành một vòng khép kín gọi là vòng Waldeyer. Trong dân gian đã trở thành thói quen khi nói chữ Amidan là hàm ý chỉ khối hạnh nhân khẩu cái, trong y văn ngày nay gọi là Tonsil. Amidan khẩu cái là khối hạnh nhân to nhất. Khi há miệng ta sẽ nhìn thấy hai khối amidan này ở hai thành bên họng, chiếm chỗ từ bờ trên đáy lưỡi chạy lên cao đến gần lưỡi gà. Ở trẻ em hệ thống miễn dịch trên niêm mạc hô hấp rất mẫn cảm, tổ chức hạnh nhân này đặc biệt phát triển mạnh. Trẻ lớn lên bình thường kích thước của chúng thu nhỏ dần và thường chỉ còn lại khối amidan khẩu cái tuy có nhỏ đi nhưng vẫn để lại dấu vết kích cỡ khác nhau với màu sắc hồng bình thường như niêm mạc xung quanh vùng họng chung sống mãi ôn hòa với con người. Các nghiên cứu đã xác nhận vai trò tích cực chống viêm và miễn dịch của vòng Waldeyer trong đó Amidan khẩu cái quan trọng nhất vì khối lượng của nó lớn hơn cả. Những nghiên cứu mới nhất của Shirley W.P và cộng sự [Cummings ORL Head and Neck Surgery, 2010] đã khẳng định vai trò miễn dịch của Amidan sản sinh ra  IgA, IgM, IgG và IgD bảo vệ cơ thể, vai trò chống viêm của tế bào lympho trong tổ chức Amidan.

Triệu chứng

Khi amidan viêm quá phát, có thể tạo thành ổ apxe Amidan hoặc apxe quanh Amidan là phản ánh một quá trình viêm nhiễm đường hô hấp đang diễn ra mãnh liệt có cội nguồn là viêm mũi xoang mạn tính. Amidan viêm nhiễm kéo dài là dịch viêm đang thường xuyên đưa vi trùng xuống họng.
  
Toàn thân sốt cao, mệt mỏi, có thể đau người, nổi hạch góc hàm.
Triệu chứng tại họng: Đau họng có thể đau một bên hoặc hai bên họng, nuốt đau, nuốt đau lên tai cùng bên, nuốt vướng, khô họng, ho, có đờm dịch viêm chảy ở thành sau họng.
Khám: Niêm mạc vùng họng viêm đỏ, hình thái amidan sưng to, màu đỏ rực, bề mặt tổ chức này trở nên xù xì , có những khe rãnh chứa mủ, nặng hơn có thể thành ổ apxe quanh Amidan với những mảnh giả mạc trắng đục.
 
Điều trị
 
1/ Giải pháp truyền thống

- Nội khoa với kháng sinh: Với Augmentin hoặc Cephalosporine
- Ngoại khoa: cắt Amidan
 
Chỉ định cắt Amidan [Cumming 2010]
- Với Amidan viêm nhiễm :
Amidan viêm tái phát 6 lần trong một năm, hoặc 3 lần trong năm trong giai đoạn 2 năm
Amidan viêm phối hợp với những điều kiện khác như bệnh thấp tim với viêm Amidan do Streptococcal
- Viêm amidan không đáp ứng với điều trị nội khoa.
Hơi thở hôi, viêm họng mạn tính, hạch cổ viêm cứng, apxe quanh Amidan
- Với Amidan quá phát gây tắc nghẽn:
Gây thở ngáy, thở bằng miệng, nghẹt thở khi ngủ, viêm phỏi đốm, chậm lớn, phát triển ngôn ngữ chậm, giọng nói bất thường, quá phát hình thái Amidan gây nuốt vướng.
                     
2/ Giải pháp của Trần Lệ Thủy [ Kỹ thuật Thủy Trần ]
[Thực hiện tại Clinic Thủy Trần]


Không cắt Amidan vì lý do sau: Amidan viêm mạn tính hoặc viêm tái phát là phản ánh một quá trình viêm nhiễm kéo dài đang xảy ra trên niêm mạc đường hô hấp có nguồn gốc từ mũi xoang. Vì vậy cắt amidan không giải quyết được bản chất vấn đề viêm nhiễm.
 
Viêm mũi xoang mạn tính ở người lớn, trẻ lớn và nhiễm khuẩn đường hô hấp trên tái diễn ở trẻ nhỏ là nguồn bệnh đưa mủ xuống họng gây viêm Amidan: Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy Amidan viêm tự khỏi hoàn toàn sau khi nguồn viêm mũi xoang được chữa khỏi triệt để. 

Tại Clinic Thủy Trần, bệnh lý viêm mũi xoang mạn và nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em được điều trị tích cực với kỹ thuật nội soi hút rửa hệ thống họng và mũi xoang, loại bỏ ổ viêm, cho dung dịch kháng sinh trực tiếp vào mũi xoang. Chỉ định điều trị ngoại khoa mổ nội soi chức năng mũi xoang phối hợp trên bệnh nhân viêm mũi xoang có bất thường giải phẫu trong hốc mũi.

 

Cuộn để xem tiếp

Viêm họng mãn do viêm xoang

27/10/2020 97.414 lượt xem Xem chi tiết

Trào ngược thực quản

16/10/2020 13.581 lượt xem Xem chi tiết

Viêm Amidan

21/10/2020 4.725 lượt xem Xem chi tiết
Gửi lời nhắn
Gửi
Thuy Tran Otolaryngologic Clinics
Thuy Tran Otolaryngologic Clinics
Thuy Tran Le MD., PhD, Head of Clinics
Ex.Vice Director of Việt Nam National Hospital of Otolaryngology
Number 6 Do Quang str. Hanoi
Email: thuyent12@gmail.com
Website: https://xoang.vn
               https://taimuihongthuytran.com
Đóng
ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH
Bạn có thể gọi số: 024 3556 6124 - 098 368 0276
hoặc điền thông tin đăng ký khám bệnh vào form bên dưới
CHÚ Ý ĐĂNG KÝ THEO LỊCH SAU:
Sáng 8-12h, chiều 13-16h (trừ chiều thứ 5, thứ 7,
ngày chủ nhật, ngày lễ)