English
Vietnammese
PHÒNG KHÁM TAI MŨI HỌNG THỦY TRẦN
Tiến sĩ Trần Lệ Thủy
Số 6 Phố Đỗ Quang, Hà Nội
Email: thuyent12@gmail.com

Tai mũi họng trẻ em


TAI MŨI HỌNG TRẺ EM

Trần Lệ Thủy MD., Ph.D
Trần Minh Trang MD., MSc
Websites: Taimuihongthuytran.com & Earnosethroat.vn

 

Giải phẫu sinh lý vòi nhĩ & tai giữa

Tai giữa gồm ba thành phần nối thông với nhau là tế bào chũm, hòm nhĩ và vòi nhĩ - Eustachian tube (hình H1, H2). Tế bào chũm - ở ngay sau vành tai, có kích thước nhỏ khi trẻ mới đẻ, phát triển lớn dần theo hướng ra sau, lên trên và xuống dưới của xương chũm. Mặt bên ở trung tâm nhóm tế bào chũm có một khoảng trống lớn gọi là sào bào, thành trước sào bào có đường nối thông với hòm nhĩ gọi là sào đạo. Sào đạo là một ống mở vào hòm nhĩ. Mặt trước hòm nhĩ là cửa loa vòi nhĩ, vòi nhĩ này mở vào vòm mũi họng. Hòm nhĩ có kích thước không đổi từ lúc trẻ sinh ra đến khi trưởng thành. Hòm nhĩ là một khoảng trống có sáu mặt, bên trong có chuỗi xương nghe, gắn liền với mặt bên là màng nhĩ và mặt trong hòm nhĩ. Mặt bên hòm nhĩ  là màng nhĩ, là đáy của ống tai ngoài. Mặt trong tiếp giáp với tai trong, mặt sau là nơi thông với sào đạo, mặt trước mở thông với vòi nhĩ. Mặt trên trần hòm nhĩ là vỏ xương tiếp giáp đại não, mặt dưới hòm nhĩ là vịnh cảnh.
 

 
Ba cấu trúc tế bào chũm, hòm nhĩ và vòi nhĩ tạo nên tai giữa, giữ chức năng truyền âm tiếp nhận âm từ môi trường bên ngoài và bảo vệ tai trong. Lót trong lòng ba khối rỗng nay là màng niêm mạc đường thở có lông chuyển tiết dịch nhày sinh lý, dòng dịch này được đào thải tự nhiên ra hốc mũi qua vòi nhĩ.
 


 

Ở người trưởng thành vòi nhĩ phát triển đầy đủ có chiều dài khoảng 3,7cm, hướng ra trước và xuống dưới tạo với phương ngang một góc 45 độ (H3, bên phải).
Ở trẻ mới đẻ vòi nhĩ ngắn, hướng ra trước chỉ chếch với phương ngang chỉ 10 độ (H3, bên trái) nên dịch viêm nhiễm ở vùng mũi họng bao gồm cả dịch dạ dày thực quản rất dễ trào qua vòi nhĩ để vào tai giữa gây nên sự đình trệ lưu thông khí và dịch trên cả ba cấu trúc tế bào chũm, hòm nhĩ, vòi nhĩ và dẫn đến viêm tai. Ở trẻ tổ chức Adenoid - VA rất phát triển, có thể gây che lấp một phần loa vòi nhĩ, gây thêm yếu tố thuận lợi gây tắc vòi nhĩ và thông khí mũi xoang, góp phần gây viêm tai. 
Đặc điểm giải phẫu sinh lý vòi nhĩ ở trẻ em là nguyên nhân làm cho tỷ lệ viêm tai ở trẻ em cao hơn nhiều so với người trưởng thành. Màng nhĩ là mặt ngoài bên của hòm nhĩ có thể quan sát bởi đèn nội soi qua ống tai ngoài. Chích rạch màng nhĩ dẫn lưu dịch viêm khỏi tai giữa và điều trị ích cực viêm mũi họng, nạo VA là giải pháp điều trị viêm tai dựa trên đặc điểm giải phẫu sinh lý bệnh trên đây.
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Viêm VA & Viêm Amidan

Viêm VA

 
Chữ VA không có trong y văn chính thống. VA là cách người Việt quen dùng, bắt nguồn từ hai chữ gốc Pháp là Végétations Adénoides. Tiếng Anh là Adenoid Vegetation, Y văn quốc tế ngày nay gọi là Adenotonsillar, viết ngắn là Adenoid, viêm VA là Adenoditis. 

Vòng Waldeyer trong khoang mũi họng bao gồm các khối tổ chức lympho lớn nhỏ nằm ở hai bên thành họng miệng, đáy lưỡi, hai bên thành bên và trần vòm họng. VA có tên chuyên môn là Adenoid nằm ở trần vòm họng. Khi lớn lên khoảng 10 tuổi tổ chức này thu nhỏ kích thước và thường thóai triền khi lớn lên và biến mất không dấu vết ở tuổi trưởng thành. Nếu VA không to, không gây bít tắc thông khí mũi xoang ta không cần nạo bỏ.

Những viêm nhiễm tại tổ chức VA là phản ảnh tình trạng viêm nhiễm đang xẩy ra tại đường hô hấp trên của trẻ. Điều trị khỏi nhiễm khuẩn đường hô hấp là đã điều trị tổ chức VA viêm tốt nhất. Vấn đề nạo VA được đặt ra khi tổ chức VA quá phát triển về kích cỡ gây khó thở. thở ngáy, thở bằng miệng, viêm đường hô hấp, che lấp vòi tai, viêm tắc vòi tai và viêm tai giữa.
 
Vòng Waldeyer sản sinh ra các Ig như IgA, IgE, IgM và IgD có vai trò tích cực trong cơ chế tăng sức đề kháng miễn dịch bảo vệ cơ thể chống lại viêm nhiễm gây nên do dị ứng, do siêu vi trùng và vi khuẩn gây bệnh của đường hô hấp. Tổ chức VA  là một thành phần trong vai trò tích cực đó. Điểm khác nhau về vai trò tích cực này giữa hai khối tổ chức VA và Amidan là kích cỡ và vị trí của chúng. Amidan có khối lượng rất lớn so với VA, nhưng ngược lại tổ chức này nằm trong một khoàng không gian lớn là khoang họng miệng, khi viêm dù có sưng to hay quá phát kích cỡ một cách tự nhiên cũng không gây nên khó thở. Điều trị khỏi nguồn viêm mũi xoang Amidan sẽ khỏi, ta có thể giữ được vai trò miễn dịch bảo vệ cơ thể của nó. Trong khi đó VA tuy có hình thái rất nhỏ so với Amidan nhưng khối tổ chức này lại có thê bít gần kín một vùng giải phẫu vòm họng nhỏ hẹp làm cho trẻ khó thở đến mức thiếu dưỡng khí trường diễn, là nguyên nhân gây tắc vòi tai và viêm tai giữa và phát triển cơ thể chậm.
 
Có nên nạo VA không?
 
So sánh giữa lợi và hại của tổ chức VA
- Tổ chức VA có ích trong vai trò sản sinh yếu tố miễn dịch bảo vệ cơ thể, tuy nhiên khối lượng của nó rất nhỏ so với tổ chức Amidan. Nếu nạo bỏ đi tổ chức VA thì chức nằng tích cực với cơ thể của cả vòng Waldeyer không giảm đáng kể.
- Ngược lại tại ví trí ngã ba vòm mũi họng vòi tai nơi tổ chức VA chiếm chỗ: kích cỡ của VA lại là quá to đủ để cản trở đường thông khí giữa mũi họng gây khó thở trường diễn và có thể che kín loa vòi nhĩ gây nên viêm tắc vòi tai và viêm tai giữa.
- Khối tổ chức VA to làm cho trẻ thở đường miệng lâu ngày gây biến dạng phát triển hàm mặt, cung hàm trên nhô, sống mũi bị xẹp thấp. 
- Sau khi nạo VA những viêm nhiễm ở vòi tai, tai giữa, đường hô hấp được cải thiện tích cực ngay, thúc đẩy tốt sự phát triển cơ thể của trẻ.
- VA nằm trong vùng cấu trúc không có mạch máu lớn nên kỹ thuật được thực hiện an toàn.
 
Với những điều ích lợi trên ở tất cả các lứa tuổi: Nếu tổ chức VA lớn gây cản thông khí đều nên nạo bỏ.



Kích thước VA quá phát

 
 
Viêm AMIDAN

Có nên cắt Amidan không?

Đây là một vấn đề đã được các nhà tai mũi họng, dị ứng miễn dịch trên thế giới dầy công khảo sát, nghiên cứu và họ đã đưa ra nhiều chính kiến. Trong đó có những quan điểm có mâu thuẫn trái chiều nhau trong phương án chữa trị.

Amidan từ Việt Nam hóa từ chữ Amydala - hạnh nhân. Xung quanh vòm họng, vòi tai đáy lưỡi là một chuỗi các hạnh nhân này, tạo thành một vòng khép kín gọi là vòng Waldeyer. Trong dân gian đã trở thành thói quen khi nói chữ Amidan là hàm ý chỉ khối hạnh nhân khẩu cái, trong y văn ngày nay gọi là Tonsil. Amidan khẩu cái là khối hạnh nhân to nhất. Khi há miệng ta sẽ nhìn thấy hai khối amidan này ở hai thành bên họng, chiếm chỗ từ bờ trên đáy lưỡi chạy lên cao đến gần lưỡi gà. Ở trẻ em hệ thống miễn dịch trên niêm mạc hô hấp rất mẫn cảm, tổ chức hạnh nhân này đặc biệt phát triển mạnh. Trẻ lớn lên bình thường kích thước của chúng thu nhỏ dần và thường chỉ còn lại khối amidan khẩu cái tuy có nhỏ đi nhưng vẫn để lại dấu vết kích cỡ khác nhau với màu sắc hồng bình thường như niêm mạc xung quanh vùng họng chung sống mãi ôn hòa với con người. Các nghiên cứu đã xác nhận vai trò tích cực chống viêm và miễn dịch của vòng Waldeyer trong đó Amidan khẩu cái quan trọng nhất vì khối lượng của nó lớn hơn cả. Những nghiên cứu mới nhất của Shirley W.P và cộng sự [Cummings ORL Head and Neck Surgery, 2010] đã khẳng định vai trò miễn dịch của Amidan sản sinh ra  IgA, IgM, IgG và IgD bảo vệ cơ thể, vai trò chống viêm của tế bào lympho trong tổ chức Amidan.

Triệu chứng

Khi amidan viêm quá phát, có thể tạo thành ổ apxe Amidan hoặc apxe quanh Amidan là phản ánh một quá trình viêm nhiễm đường hô hấp đang diễn ra mãnh liệt có cội nguồn là viêm mũi xoang mạn tính. 
Amidan viêm nhiễm kéo dài là dịch viêm đang thường xuyên đưa vi trùng xuống họng.
  
Toàn thân sốt cao, mệt mỏi, có thể đau người, nổi hạch góc hàm.
Triệu chứng tại họng: Đau họng có thể đau một bên hoặc hai bên họng, nuốt đau, nuốt đau lên tai cùng bên, nuốt vướng, khô họng, ho, có đờm dịch viêm chảy ở thành sau họng.
Khám : Niêm mạc vùng họng viêm đỏ, hình thái amidan sưng to, mầu đỏ rực, bề mặt tổ chức này trở nên xù xì , có những khe rãnh chứa mủ, nặng hơn có thể thành ổ apxe quanh Amidan với những mảnh giả mạc trắng đục.
 
Điều trị
 
1/ Giải pháp truyền thống

- Nội khoa với kháng sinh: Với Augmentin hoặc Cephalosporine
- Ngoại khoa: cắt Amidan
 
Chỉ định cắt Amidan [Cumming 2010]
- Với Amidan viêm nhiễm :
Amidan viêm tái phát 6 lần trong một năm, hoặc 3 lần trong năm trong giai đoạn 2 năm
Amidan viêm phối hợp với những điều kiện khác như bệnh thấp tim với viêm Amidan do Streptococcal
- Viêm amidan không đáp ứng với điều trị nội khoa.
Hơi thở hôi, viêm họng mạn tính, hạch cổ viêm cứng, apxe quanh Amidan
- Với Amidan quá phát gây tắc nghẽn:
Gây thở ngáy, thở bằng miệng, nghẹt thở khi ngủ, viêm phổi đốm, chậm lớn, phát triển ngôn ngữ chậm, giọng nói bất thường, quá phát hình thái Amidan gây nuốt vướng.
                     
2/ Giải pháp của Trần Lệ Thủy [ Kỹ thuật Thủy Trần ]
[Thực hiện tại Clinic Thủy Trần]


 Không cắt Amidan vì lý do sau: Amidan viêm  mạn tính hoặc viêm tái phát là phản ảnh một quá trình viêm nhiễm kéo dài đang xẩy ra trên niêm mạc đường hô hấp có nguồn gốc từ mũi xoang. Vì vậy cắt amidan không giải quyết được bản chất vấn đề  viêm nhiễm.

Viêm mũi xoang mạn tính ở người lớn, trẻ lớn và nhiễm khuẩn đường hô hấp trên tái diễn ở trẻ nhỏ là nguồn bệnh đưa mủ xuống họng gây viêm Amidan:  Kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy Amidan viêm tự khỏi hoàn toàn sau khi nguồn viêm mũi xoang được chữa khỏi triệt để. 

Tại Clinic Thủy Trần, bệnh lý viêm mũi xoang mạn và nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em được điều trị tích cực với kỹ thuật nội soi hút rửa hệ thống họng và mũi xoang, loại bỏ ổ viêm, cho dung dịch kháng sinh trực tiếp vào mũi xoang. Chỉ định điều trị ngoại khoa mổ nội soi chức năng mũi xoang phối hợp trên bệnh nhân viêm mũi xoang có bất thường giải phẫu trong hốc mũi.

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
 
Viêm tai giữa cấp

Acute Otitis Media - AOM 

Triệu chứng 
Đau tai, nghe kém kiểu dẫn truyền, chẩy mũi, ho, sốt, nhiễm khuẩn hô hấp rầm rộ, trẻ nhỏ thường có kèm theo chứng trào ngược thực quản.

Nội soi tai thấy màng nhĩ đỏ rực, phồng, bóng mủ trong hòm tai, có thể đã tự vỡ mủ.
Màng tai có thể dầy cộm hồng xạm: là hình ảnh viêm tai cấp chuyển thể từ bệnh Viêm tai keo [Otitis Media with Effusion - OME ] [H1]. Niêm mạc mũi họng phù viêm tiết dịch nhày, mủ.

Xử lý:  
1- Chích rạch màng nhĩ ở ¼ sau hoặc trước dưới dẫn lưu mủ. Đặt ống thông khí nếu bệnh là biến thể từ một  viêm tai keo [H2].
 2- Hút rửa dịch mủ viêm khoang mũi họng & vòi tai [ Kỹ thuật Thủy Trần ]

 3- Nạo VA nếu khối VA to che lấp vòi tai, cản thông khí
Điều trị kịp thời theo qui trình trên bệnh chuyển biến nhanh chóng, tiên lượng tốt, không để lại di chứng, tránh dùng kháng sinh toàn thân.

                               


 H1 - Màng tai viêm tai giữa cấp
biến chuyển từ một viêm tai keo

 
H2 - Tháo mủ & đặt ống thông khí
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Viêm tai tiết dịch
Otitis Media with Effusion - OME
 
Bệnh được gọi với những tên khác nhau: Viêm tai tiết dịch, viêm tai keo, viêm tai thanh dịch, viêm tai màng nhĩ đóng kín. Thuật ngữ quốc tế là OME - Otitis Media with Effusion.

TRIỆU CHỨNG

OME là dạng viêm tai kín đáo gần như không có triệu chứng [ còn được gọi là asymptomatic ] màng nhĩ đóng, ứ dịch, keo bên trong hòm tai giữa, vòi nhĩ mất chức năng, thính lực giảm. Người lớn và trẻ lớn có thể cung cấp triệu chứng nghe kém, ù tai, bức bách trong tai. Soi tai: màng nhĩ mất di động, dầy cộm, phồng hoặc phẳng hoặc lõm bất thường, mầu hồng xạm, xám, có thể thấy mức nước, múi dịch mủ trong hòm tai giữa, hoặc màng tai dính vào đáy hòm nhĩ. Ở trẻ nhỏ vì không phát hiện được triệu chứng khách quan nên bệnh dễ bị bỏ sót chẩn đoán, khi phát hiện có thể đã muộn, thường đã để lại di chứng.
Đo nhĩ đồ: Nhĩ đồ bẹt, hoặc đỉnh thấp nằm trên vùng áp lực âm bên trái. Thính lực đồ có nghe kém kiểu dẫn truyền, mất từ 25-40dB, ngôn ngữ chậm phát triển do không nghe được; Một số ít trường hợp có điếc thể thần kinh, do bệnh lý đã gây tổn thương tai trong.

CƠ CHẾ BỆNH LÝ

Trên những bệnh nhân OME các nhóm thông bào khí trong xương thái dương rất phát triển [ bao gồm nhóm tế bào xương chũm, nhóm quanh mê nhĩ, nhóm mỏm xương đá], dịch từ những nhóm thông bào này đổ vào tai giữa, rồi từ đây qua vòi nhĩ để xuống vòm mũi họng: Trong bênh cảnh viêm tai tiết dịch vòi nhĩ tắc, mất chức năng thông khí nên dịch ứ lại trong hòm tai giữa.

Theo Hentzer [9] niêm mạc tai giữa là niêm mạc đường thở biến dị, không còn lông chuyển - nonciliated cell - trong đó tế bào hình cốc đóng vai trò đặc trưng tiết nhầy của tai giữa và vòi nhĩ.

Viêm tai tiết dịch thường xẩy ra trên trẻ nhỏ có cơ địa dị ứng, miễn dịch kém: niêm mạc hô hấp mũi xoang tai giữa vòi nhĩ tăng tiết dịch. Dịch tiết từ hệ thống thông bào trong xương thái dương có một khối lượng khổng lồ, hòm tai giữa chỉ như một trạm trung chuyển dịch mà thôi. Dịch có thể nhày, thanh dịch, hoặc có dạng, keo dính, hoặc đổi mầu vì có nhiễm khuẩn.

Bệnh lý viêm tai tiết dịch này còn liên quan đến chứng trào ngược thực quản, dịch nhiễm khuẩn thức ăn có thể trào vào tai giữa qua vòi Eustachian, làm tăng tính viêm nhiễm phối hợp của viêm tai keo, gây bệnh kéo dài khó dứt.

Xử lý 

  1- Chích mở màng nhĩ ở ¼ sau dưới hoặc trước dưới, dẫn lưu dịch keo, đặt ống thông khí.
  2- Hút rửa khoang mũi họng điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp, vòi tai Kỹ thuật Thủy Trần ]
  3- Nạo VA nếu VA to che lấp vòi tai gây mất thông khí vòi tai.
  4- Chữa trào ngược thực quản: Cho trẻ ăn đúng cách: Chia nhỏ bữa, ăn trong tư thế đầu cao, bữa tối ăn cách xa giấc ngủ đêm khoảng 3 tiếng để tránh dịch thực quản trào lên mũi họng, qua vòi tai vào tai giữa.
Thính lực sẽ cải thiện ngay sau khi đặt ống thông khí, trừ trường hợp đã bị điếc kiểu thần kinh.


Theo rõi sau đặt ống thông khí

Thông thường ống thông khí có thể nằm lại trong màng tai lâu từ một vài tháng có khi lâu hơn nữa. Khi chức năng vòi nhĩ trở lại bình thường ống thông khí sẽ tự đẩy ra khỏi tai giữa và màng nhĩ sẽ tự liền lại.
Sau khi điều trị khỏi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên tình trạng sức khoẻ của bệnh nhân hồi phục. Sự theo rõi không có một lộ trình đặc biệt về mặt thời gian, phụ thuộc vào mức độ chảy dịch và mủ. Nếu dịch tiếp tục chảy chỉ cần lau cửa tai bằng bông sạch, cắt tóc mai ngắn để tránh gây nhiễm trùng vào tai.
Nếu có mủ đặc là OME đã nhiễm khuẩn. Cần được điều trị kháng sinh uống, vệ sinh làm thuốc tai, hút rửa dịch nhày ứ đọng ở ống thông khí, tránh bít tắc. Bình thường ống thông khí nằm trong tai bệnh nhân êm ái không gây nên một dấu hiệu bất thường nào. Nếu đột nhiên bệnh nhân có sốt hoặc đau tai là báo hiệu ống thông khí bị bít tắc và dịch viêm bị ứ lại bên trong tai giữa: cần nội soi để làm vệ sinh hút rửa. Bệnh nhân điều trị theo qui trình trên đều khỏi bệnh.

Ở người lớn cao tuổi màng nhĩ sau quá trình viêm đã trở nên teo mỏng mạch máu nuôi dưỡng rất hạn chế, ống thông khí có thể không tự đẩy ra khỏi màng nhĩ trong một thời gian dài hơn những người trẻ tuổi, hoặc sau khi ống thông khí bật ra, tai khô nhưng màng tai khó liền lại.

Biến chứng của việc đặt ống thông khí rất hiếm khi xẩy ra.
Do những viêm nhiễm phối hợp của ống tai ngoài, do lượng mủ đặc keo dính, có áp lực mủ nhày lớn đột biến gây chệch vị trí ống thông khí, ống có thể bị đẩy ra ngoài ống tai ngoài hoặc lọt vào trong hòm nhĩ. Xử lý đặt lại ống thông khí vào đúng vị trí.

Biến chứng của viêm tai tiết dịch

- Nghe kém kiểu truyền âm, một số ít nghe kém kiểu tiếp âm.
- Viêm xương chũm: Nếu không được dẫn lưu dịch qua ống thông khí dịch keo ứ đọng trong tai giữa gây nên viêm tai giữa mủ và viêm xương chũm.
- Xẹp màng nhĩ vào thành trong hòm nhĩ gây nên nghe kém nặng vì hòm nhĩ và hệ thống các xương nghe của tai giữa trở nên một khối kết dính không còn giữ được chức năng truyền âm, gây điếc dẫn truyền nặng. Số ít có thể gây nên nghe kém kiểu tiếp nhận. 
- Chảy tai kéo dài và hay tái phát do trào ngược thực quản: bệnh lý này giống như cái bơm tự động không ngừng bơm dịch nhiễm khuẩn của đường tiêu hóa lên tai giữa qua vòi tai.
 
Kết quả điều trị

Với một tỷ lệ rất thấp bệnh nhân viêm tai keo có nghe kém kiểu tiếp nhận - hay còn gọi là kiểu thần kinh do quá trình viêm đã tấn công vào vùng tai trong việc đặt ống thông khí chỉ  là để dẫn lưu mủ dịch viêm ra khỏi cơ thể, thính lực sẽ không hồi phục.

Đại đa số trường hợp viêm tai keo nghe kém kiểu truyền âm, quá trình viêm keo chỉ khu trú ở tai giữa, sau khi đặt ống thông khí thính lực cải thiện ngay. Mủ và dịch viêm được đẩy ra ngoài cơ thể, sức khoẻ cải thiện, không để lại di chứng.

Một số ít bệnh nhân người lớn, do dị ứng tăng tiết dịch của các thông bào khí trong xương thái xương, do hội chứng trào ngược thực quản phối hợp gây nên tình trạng dịch tai chảy kéo dài, hoặc hay tái phát ống thông khí không tự đẩy ra khỏi màng tai.

Di chứng của viêm tai tiết dịch

Nếu không được điều trị đúng sẽ để lại di chứng gây xẹp màng nhĩ vào đáy nhĩ, nghe kém không hồi phục. hoặc chuyển thành viêm tai giữa mủ.
 
Ví dụ 1: Màng nhĩ trong viêm tai keo - chích màng tai đặt ống thông khí
 

Ví dụ 2: Viêm tai keo hai bên,  điếc hỗn hợp 2 tai  & nhĩ đồ bệnh lý


Ví dụ 3: Viêm tai keo bên trái
------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Viêm xoang & nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em

Viêm mũi xoang ở trẻ em và nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ có đặc điểm là tiến triển rất rầm rộ do phản ứng miễn dịch mãnh liệt xẩy ra trên bề mặt niêm mạc hô hấp và sự bùng phát của hệ thống lympho [trong đó có VA & Amidan]. Sự viêm nhiễm rất nhanh chóng gây nên viêm tắc vòi tai, viêm tai giữa, tạo thành tổ hợp sau:
              -  Nhiễm khuẩn hô hấp trên - viêm mũi xoang
              -  Viêm vòi tai rồi viêm tai giữa
              -  Quá phát VA & Amidan
              -  Trào ngược dạ dầy thực quản
              -  Gây viêm đường hô hấp dưới


Vòi tai Eustachian tube dài khoảng 3,7cm nối tai giữa với vòm mũi họng.
Vòi tai bình thường giúp cho sự nghe, tránh tác hại của những âm thanh quá lớn, đào thải dịch sinh lý từ tai giữa ra vòm mũi họng. Vòi tai ở trẻ nhỏ ngắn, nằm ngang, cơ khép vòi tai yếu, do vậy vòi luôn mở để dịch từ khoang mũi họng, dịch thực quản tràn vào tai giữa. Vòi tai viêm nhiễm tắc nghẽn luôn là một phần của bệnh cảnh viêm nhiễm mũi xoang và đường hô hấp trên ở trẻ.
 

 H1 - Điều trị nhiễm khuẩn hô hấp trên ở trẻ em với Kỹ thuật Thủy Trần 
 
Điều trị [H1] Giải quyết bốn vấn đề sau:

1- Trẻ nhỏ được quấn trong một khăn vải mềm kiểu quấn tã [có đóng bỉm], y tá giữ trẻ trong tư thế nằm đầu ngả thấp khỏi mép giường: Qua đường mũi nội soi hút rửa toàn bộ khoang mũi họng và vòi tai với nước muối sinh lý 0,9%, cho dung dịch kháng sinh tại chỗ. Tư thế kỹ thuật này cho phép thao tác khám chữa bệnh hiệu quả và an toàn tuyệt đối, tránh cho dịch viêm và nước muối chảy xuống họng và đường hô hấp dưới, nhanh chóng giải phóng bít tắc đường thở, thoát khỏi tình trạng phù viêm khó thở.
Ưu điểm: Cải thiện nhanh chóng tình trạng viêm nhiễm cấp tính, lập lại đường thở lành mạnh cho trẻ. Tránh tác hại của kháng sinh uống & tiêm, đưa dung dịch kháng sinh vào hốc mũi xoang
2- Xử lý viêm tai giữa [nếu có]
3- Nạo VA
4- Điều trị trào ngược dạ dầy thực quản
Bệnh cải thiện ngay, thông thường khỏi bệnh nhanh chóng trong khoảng 7-14 ngày


 

Cuộn để xem tiếp
Gửi lời nhắn
Gửi
GIỜ LÀM VIỆC
Sáng: 8h - 12h; Chiều: 13h - 16h
Nghỉ: ngày lễ, chủ nhật, 
chiều thứ 5 & chiều thứ 7
 
Thuy Tran Otolaryngologic Clinics
Thuy Tran Otolaryngologic Clinics
Thuy Tran Le MD., PhD, Head of Clinics
Ex.Vice Director of National Hospital of Otolaryngology
Number 6 Do Quang str. Hanoi
Email: thuyent12@gmail.com
Website: https://xoang.vn
               https://taimuihongthuytran.com
Đóng
ĐĂNG KÝ KHÁM BỆNH
Bạn có thể gọi số: 024 3556 6124 - 098 368 0276
hoặc điền thông tin đăng ký khám bệnh vào form bên dưới
CHÚ Ý ĐĂNG KÝ THEO LỊCH SAU:
Sáng 8-12h, chiều 13-16h (trừ chiều thứ 5, thứ 7,
ngày chủ nhật, ngày lễ)